TRANG CHỦ
GIỚI THIỆU
TIN TỨC - SỰ KIỆN
TƯ VẤN, HỎI ĐÁP
THƯ VIỆN
Theo Chi cục Trồng trọt và BVTV, hiện toàn tỉnh đang duy trì 178 mã số vùng trồng Vải xuất khẩu sang các thị trường Trung Quốc, Mỹ, Nhật bản và Thái Lan với tổng diện tích 16.695 ha; 30 vùng trồng Nhãn với 572.7 ha, xuất khẩu sang Trung Quốc, Nhật Bản; Úc và Mỹ 5 mã; 17 mã số vùng trồng Dưa hấu với 688.8 ha; 20 mã số vùng trồng Bưởi xuất khảu sang thị trường Nga và Mỹ với 221.98 ha; 01 vùng trồng Vú sữa với 10 ha. Duy trì 215 cơ sở đóng gói quả vải tươi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
Để quản lý tốt các mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói nhằm nâng cao nhận thức của người sản xuất về công tác quản lý mã số, tránh việc sử dụng mã sai mục đích và mạo danh mã số trong qua trình xuất khẩu làm ảnh hưởng tới uy tín hàng nông sản Việt nói chung và nông sản tỉnh Bắc Giang nói riêng các địa phương chủ động làm tốt công tác dự tính, dự báo, kiểm soát sinh vật gây hại tại các vùng trồng đặc biệt các đối tượng dịch hại thuộc danh mục kiểm dịch thực vật của nước Nhập khẩu; quản lý tốt việc sử dụng thuốc BVTV; kiểm soát dư lượng thuốc BVTV đối với sản phẩm trước thu hoạch; mở rộng áp dụng các mô hình sản xuất hữu cơ, sản xuất theo VietGAP và GlobalGAP, nâng cao năng suất, chất lượng nông sản.
Hình thành liên kết chuỗi sản phẩm từ vùng trồng, nhà đóng gói, nhà xuất khẩu, địa phương và cơ quan quản lý nhà nước để ngăn chặn tình trạng đưa sản phẩm từ ngoài vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói chưa có mã số vùng trồng vào chuỗi sản phẩm và kiểm soát khẩu xuất khẩu.
Đẩy mạnh công tác kiểm tra việc sử dụng mã số vùng trồng tại các địa phương, hướng dẫn các địa phương thực hiện rà soát lại hiện các mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và việc sử dụng mã số tại các địa phương để làm cơ sở đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng các mã số vùng trồng đã cấp. Tập huấn, tuyên truyền về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói cũng như các quy định của các nước nhập khẩu; các tiêu chí liên quan đến kiểm tra, giám sát vùng trồng, cơ sở đóng gói để phục vụ cấp và quản lý mã số.
Tại địa phương, đề nghị phân công cụ thể cán bộ đầu mối trong quản lý, giám sát các vùng trồng, cơ sở đóng gói được cấp mã số. Chủ động xây dựng các kế hoạch kiểm tra đề nghị cấp mã số hoặc giám sát các vùng trồng đã được cấp mã số để chủ động trong công tác quản lý tại địa phương.
Tăng cường mối liên kết với các vùng trồng, các cơ sở đóng gói để kiểm soát hàng hóa xuất khẩu từ các vùng trồng và cơ sở đóng gói để tránh việc mạo danh mã số, cũng như các hành vi vi phạm liên quan đến sử dụng mã số. Thông tin thường xuyên với các cơ quan đầu mối tại tỉnh về công tác quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói cũng như quản lý hàng hóa xuất khẩu từ những mã số của mình.
Các doanh nghiệp xuất khẩu chủ động vùng nguyên liệu bằng cách liên kết với các vùng trồng đã được cấp mã số để giữ vững và nâng cao chất lượng nông sản.
Được biết, quản lý mã số vùng trồng có ý nghĩa quan trọng đối với xuất khẩu các sản phẩm trồng trọt của Việt Nam. Việc này không chỉ đáp ứng tiêu chuẩn của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà còn giúp nông sản Việt Nam định hình thương hiệu trên các thị trường lớn, hay nói cách khác nông sản Việt Nam cần phải có “vé thông hành” vào thị trường quốc tế. Đồng thời, nhằm kiểm soát chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc cây trồng; bảo đảm nông sản đưa vào quá trình lưu thông trên thị trường đúng nguồn gốc tại vùng trồng, tránh tình trạng sản phẩm được sản xuất tại nơi khác trà trộn với sản phẩm vùng trồng đã được cấp mã số.