Bắc Giang: Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp - hướng đi bền vững, hiệu quả
Lượt xem: 488  | Ngày đăng: 03/01/2022

Thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp, những năm qua, ngành nông nghiệp tỉnh đã tập trung phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tạo ra sản phẩm chất lượng tốt, có khả năng cạnh tranh và nâng cao thu nhập cho nông dân.

Đặc biệt từ khi có quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 17/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020, ngành nông nghiệp của tỉnh đã huy động các nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ, hình thành nhiều vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá tập trung lớn; nhiều sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh được bảo hộ như: chỉ dẫn địa lý vải thiều Lục Ngạn, nhãn hiệu chứng nhận gà đồi Yên Thế, nhãn hiệu tập thể gạo thơm Yên Dũng, mỳ Chũ, mỳ Kế, rau cần Hoàng Lương… Cùng với nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản, lâm nghiệp được chuyển giao, các quy trình công nghệ tiên tiến được ứng dụng vào sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao. 

Anh Nguyễn Văn Thiện, thôn Bình Minh, xã Quế Nham, huyện Tân Yên là người đầu tiên trong xã mạnh dạn trồng rau an toàn trong nhà lưới cung cấp cho thị trường Hà Nội.Ưu điểm của phương pháp này là hạn chế côn trùng, bệnh từ nơi khác xâm nhập, tránh tác động tiêu cực của thời tiết. Nguồn nước giếng sạch trong mát dùng tưới rau. Để tiết kiệm công lao động, anh lắp hệ thống tưới nước phun sương, cách hơn 2 m bố trí một ống tưới. Chỉ cần bật công tắc là trong vòng 10-15 phút, hệ thống đưa nước tưới khắp luống. Ngoài ra, tưới phun sương còn tiết kiệm nước, hạ nhiệt độ trong nhà lưới vào thời điểm nắng nóng và không làm rau bị dập nát. 

Hay tại gia đình anh Bùi Đức Long ở phố Kép xã Hồng Giang huyện Lục Ngạn, với mô hình sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt trên cây cam đường canh, anh Long cho biết, từ tháng 12/2015 khi đưa vào sử dụng đến nay, hệ thống tưới nước nhỏ giọt cho cây cam đã phát huy nhiều ưu điểm tích cực như: tiếp kiệm thời gian, lượng nước tưới và công lao động; bón phân dễ dàng với hiệu quả cao; lượng nước được thấm sâu giữ ẩm tốt nên cây phát triển xanh tốt, mặc dù cây mới được 2 năm tuổi nhưng đã cao to như cây 3 – 4 tuổi. Trong ba năm gần đây, sản lượng cam nhà anh Long luôn đạt từ 50 - 65 tấn quả, doanh thu đạt từ 1,8 tỷ - 3,8 tỷ đồng/năm.

Trên đây là số ít minh chứng thực tế cho hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất. Bên cạnh đó có thể kể đến nhiều kết quả tích cực cụ thể trên từng lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.

Về sản phẩm lúa chất lượng: Việc nghiên cứu, ứng dụng các giống lúa lai 2 dòng, 3 dòng, giống lúa chất lượng, giống lúa cực ngắn ngày chất lượng cao, kháng rầy nâu như: HĐT8, ĐS1, QR1… đã góp phần mở rộng diện tích lúa chất lượng, lúa hàng hoá của tỉnh. Diện tích gieo trồng các giống lúa chất lượng BG1, BG6, BC15, Thiên Ưu 8… được mở rộng. Đến năm 2015, diện tích sản xuất lúa chất lượng đạt 26.000 ha, sản lượng đạt 145.000 tấn, tập trung tại các huyện Yên Dũng, Việt Yên, Hiệp Hoà. Xây dựng vùng sản xuất hạt giống lúa lai F1 tại huyện Tân Yên; xây dựng thành công nhãn hiệu tập thể gạo thơm Yên Dũng.

Về sản xuất nấm: Ngoài những sản phẩm thông dụng như nấm sò, nấm mỡ, mộc nhĩ, linh chi do Trung tâm Giống Nấm nhân giống và sản xuất đã được triển khai và nhân rộng ra toàn tỉnh thì hiện nay Công ty CP Tư vấn và Thương mại Toàn Cương xã Quang Châu - Việt Yên đã nhân giống và sản xuất một số giống nấm cao cấp như nấm đùi gà, nấm chân dài, kim châm… Đây là những loại nấm có thị trường lớn, giá trị kinh tế cao góp phần đa dạng hoá giống nấm của tỉnh. Đã hình thành vùng sản xuất nấm tập trung tại huyện Lạng Giang (06 xã với trên 300 hộ sản xuất) nâng tổng số hộ sản xuất nấm trên địa bàn tỉnh lên gần 700 hộ, trong đó có trên 340 hộ quy mô sản xuất từ 300 m² lán trại trở lên, trên 20 hộ có quy mô từ 500 – 1000 m² lán trại, 10 mô hình sản xuất nấm tập trung quy mô trên 5000 m². Sản lượng nấm tươi các loại năm 2015 đạt khoảng 3000 – 3500 tấn.

Về sản phẩm chè: Đã xây dựngmô hình nhân giống vô tính, trồng, thâm canh, cải tạo nương chè già cỗi bằng một số giống chè mới và chế biến chè an toàn tại huyện Yên Thế; xây dựng mô hình vườn giâm cành chè 4000 m², công suất 100 vạn giống/năm; trồng chè giống mới LDP 1 và PH 1 quy mô 30,6 ha, năng suất năm thứ 3 đạt 6 -7 tấn/ha; xây dựng nhà máy sản xuất chè diện tích 1.200 m² đi vào hoạt động, công suất chế biến 5 tấn búp tươi/ngày. Dự án góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của huyện Yên Thế, nâng diện tích chè lên trên 400 ha, trở thành cây công nghiệp có thế mạnh của huyện Yên Thế.

Về sản phẩm rau chế biến, rau an toàn: Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP giai đoạn 2013 – 2015, trong 3 năm đã tập huấn, đào tạo được trên 2. 250 hộ, xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP được 60 ha, có sự tham gia của doanh nghiệp theo chuỗi liên kết sản xuất - bảo quản – tiêu thụ. Kết quả năm 2015, diện tích rau chế biến, rau an toàn là 4.500 ha, sản lượng đạt 85.000 tấn. Các sản phẩm rau chế biến gồm: dưa chuột bao tử, cà chua bi, dưa chuột nhật, khoai tây Atlantics, hành lá, măng tây xanh… đang có thị trường tiêu thụ khá ổn định thông qua hợp đồng liên kết với các nhà máy chế biến và các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu sang Nga, EU, Nhật Bản. 

Về sản phẩm lạc: Diện tích gieo trồng lạc năm 2015 đạt gần 12 nghìn ha, sản lượng đạt gần 29 nghìn tấn. Trong sản xuất lạc đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới như công nghệ che phủ nilon, sử dụng phân bón vi sinh, phân bón lá, đưa các giống mới như L14, L26, L23…vào sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao. Xây dựng thành công thương hiệu “lạc giống Tân Yên” có thị trường tiêu thụ ổn định.

Về sản phẩm cây ăn quả: Đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quy trình VietGAP, GlobalGAP trong canh tác cây ăn quả; xây dựng vườn ươm giống cam sạch bệnh bằng giống V2, CS1. Triển khai đề tài nghiên cứu thực trạng sản xuất và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng cây cam đường canh trên địa bàn huyên Lục Ngạn. Việc triển khai thực hiện sản xuất vải thiều theo tiêu chuẩn GAP đã góp phần tăng giá trị từ 20 – 30 % so với vải thiều sản xuất thông thường, đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm. Năm 2015, diện tích vải áp dụng theo quy trình sản xuất VietGAP đạt 12.300 ha, sản lượng đạt 85.000 tấn. Sản phẩm quả vải thiều của tỉnh đã xuất khẩu sang một số thị trường khó tính như: Mỹ, Nhật, Anh, Úc, …

Lĩnh vực chăn nuôi: Đã chuyển giao, ứng dụng và lai tạo các giống trâu, bò cao sản như trâu lai Mura, bò lai Zebu, bò BBB, bò Úc, các giống lợn siêu nạc như Duroc của Mỹ, Landrace Đan Mạch, các giống gia cầm cao sản, gà siêu trứng, vịt siêu trứng; công nghệ chuồng kín với hệ thống làm mát, điều khiển nhiệt độ chuồng nuôi, máng ăn và nước uống tự động; xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm khí biogas, sử dụng chế phẩm sinh học làm đệm lót nền chuồng; công nghệ tự động hoá trong nuôi gà đẻ trứng.

Về lĩnh vực thuỷ sản: Làm chủ công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm các đối tượng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao như: cá Lăng chấm, cá Anh Vũ, rô phi đơn tính, chép lai, rô đầu vuông… ; chăn nuôi theo hình thức thâm canh, an toàn sinh học, sản xuất theo quy trình VietGAP cho năng suất cao được người dân quan tâm và ngày càng mở rộng diện tích. Trên địa bàn tỉnh đã hình thành nhiều vùng nuôi thuỷ sản tập trung như: Nghĩa Trung - Việt Yên, Ngọc Châu, Cao Thượng – Tân Yên, Thái Đào - Lạng Giang, Lão Hộ - Yên Dũng…

Về lâm nghiệp: Đã chuyển giao và ứng dụng các giống bạch đàn, keo lai sản xuất bằng phương pháp giâm hom và nuôi cấy mô tế bào vào trồng rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh đạt trên 40% diện tích trồng rừng của cả tỉnh. Điển hình như giống bạch đàn UP 99, UP54, UP 95, các giống keo lai như BV10, BV33, BV73…Kết quả ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ đã góp phần nâng diện tích trồng rừng tập trung hàng năm đạt gần 6.000 ha/năm. Trong đó diện tích rừng gỗ lớn đạt gần 5.500 ha, chiếm gần 19%. Sản lượng gỗ khai thác rừng trồng bình quân hàng năm ước đạt trên 255 nghìn m³.

Về thuỷ lợi: Xây dựng mô hình tưới nước nhỏ giọt cho cây cam đường canh diện tích 1,55 ha tại gia đình ông Long xã Hồng Giang huyện Lục Ngạn đem lại hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm thời gian, nước tưới, giảm công lao động.

Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đang là yêu cầu tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại, góp phần thực hiện thành công Đề án tái cơ cấu ngành. Để tạo bước đột phá cũng như phát triển nông nghiệp bền vững, ngành nông nghiệp Bắc Giang tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức từ cán bộ đến người dân, doanh nghiệp về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Thông tin, tuyên truyền rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng về các thành tựu nghiên cứu, ứng dụng, các mô hình, sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có hiệu quả để người dân tham khảo, học tập và vận dụng. 

Bài, ảnh: Hoàng Minh

TRANG VIDEO
Bứt phá nông nghiệp Bắc Giang
Ngày: 03-12-2021 12:12
  • Ảnh 1: Dược mùa nhờ sử dụng cơ giới hóa khép kín trong sản xuất lúa vụ Chiêm Xuân

    Ảnh 1: Dược mùa nhờ sử dụng cơ giới hóa khép kín trong sản xuất...

  • Mô hình nuôi thâm canh cá chim trắng tại xã An Dương - Tân Yên

    Mô hình nuôi thâm canh cá chim trắng tại xã An Dương - Tân Yên

  • Đặc sản Vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang

    Đặc sản Vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang

  • Trình diễn máy cấy lúa Kubota tại xã Quang Tiến - Tân Yên

    Trình diễn máy cấy lúa Kubota tại xã Quang Tiến - Tân Yên